Thư gửi Ba nhân ngày 14/3

23:11 |

THƯ GỬI BA NHÂN NGÀY 14/3
(Viết tặng Trần Thị Thủy)[1]

Trường Sa đảo chìm, đảo nổi
Nhấp nhô biển sóng mê hồn
Gạc Ma là đâu mẹ hỡi?
Mà nghe ba mãi gọi con

Từ thuở nằm trong bụng mẹ
Khi con chưa biết khóc cười
Đã hay ba không về nữa
Con thương ba lắm, ba ơi!

Lớn lên con nghe mẹ kể
Ba cầm cờ giữ Gạc Ma
Giặc Tàu nhằm ba xả đạn
Máu loang thắm đỏ Trường Sa

Được phong anh hùng ngày đó
Chào đời con chẳng còn ba!
Tim con hoài thương thao thức
Trong niềm đau nhớ xót xa

Chín hai “ba về” Quảng Phúc[2]
Lúc con mới bốn tuổi đời
Dắt ra nghĩa trang mẹ chỉ
“Ba Phương nằm đó, con ơi!”

Cách nhà chỉ hơn trăm mét
Nên con thường trốn ra đây
Khóc thầm mỗi khi hờn tủi
Đặt hoa trên mộ mỗi ngày

Cách đây bốn năm có chuyện
Tấm Bia mất chữ anh hùng
Trên Bia chỉ ghi liệt sĩ
Biết tin ba có buồn không?

Dần dà không người lai vãng
Viếng thăm bên mộ của ba
Buồn đau nhiều đêm mẹ khóc
Con thương ôm mẹ xót xa

Hóa ra “chống Tàu” là tội?
Nên ba bị tước anh hùng!
Con hỏi mẹ buồn không nói
Nơi xa, ba có đau không?

Hỏi tỉnh, tỉnh hỏi trung ương
Trung ương bặt vô âm tín
Ba năm trời nơi xó xỉnh
Không cấp nào đoái thương ba!

Ba xưa hi sinh vì nước
Mà sao đảng lại ghét ba
Hay chống Tàu là chống đảng
Chống đồng chí, chống ruột rà?

Học xong con xin ra đảo
Thả hoa quanh biển Gạc Ma
Nhìn lá cờ Tàu vấy máu
Mà thương đồng đội của ba!

Con vào Khánh Hòa làm việc
Từ năm hai ngàn lẻ mười
Nơi xưa ba từng thân thiết
Chồng con cũng lính, ba ơi!

Ba nay đã thành ông ngoại
Navy con gái chúng con
Đặt tên “Hải Quân” yêu đảo
Để mong trung với nước non

Tam Sa giặc Tàu đã lập
Nối Hoàng Sa với Trường Sa
Nay con thuộc Tàu hay Việt?
Trời cao có biết không ba?

Lẽ nào chính quyền của đảng
Ngày xưa đã tặng Hoàng Sa
Nay định Trường Sa trao nốt
Còn đâu biển đảo quê nhà!

Phải chi thời nay đã khác
Đảng ta vì bạc, vì quyền
Mà đã cam tâm theo giặc
Bán dần Đất Mẹ bình yên?

Hà Nội, 12/3/2013
Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1]- Trần Thị Thủy là con gái duy nhất của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương. Khi anh hi sinh tại đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988 thì vợ anh, chị Mai Thị Hoa mới có thai Thủy được hơn một tháng, nên anh chưa được biết. Nay Thủy đã tốt nghiệp ngành Việt Nam Học tại đại học Quảng Bình, nhưng cô nhất quyết xin vào Khánh Hòa làm việc tại đơn vị cũ của cha mình, Lữ Đoàn 146 Vùng 4 Hải Quân để thường xuyên được ra đảo thăm nơi năm xưa cha cô và 63 đồng đội đã hi sinh trong Hải Chiến Trường Sa tại các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đảo Gạc Ma đã bị giặc Tàu cưỡng chiếm kể từ ngày 14/3/1988 đó.

[2]- Sau Hải Chiến Trường Sa 14/3/1988, liệt sĩ Trần Văn Phương và hai đồng đội của anh đã được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND vào ngày 6/1/1989 có khắc lên bia mộ khi anh nằm ở nghĩa trang Trường Sa. Tháng 5/1992, khi mộ anh được chuyển về nghĩa trang xã Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình thì trên bia mộ vẫn còn khắc danh hiệu anh hùng. Nhưng đến năm 2009 khi xã Quảng Phúc tôn tạo lại nhĩa trang thì có “lệnh từ trên”, do danh hiệu anh hùng chống Tàu của anh quá nhạy cảm nên đã bị đục bỏ. Đồng đội, bạn bè, bà con, gia đình và nhiều nhà văn nhà báo đã thắc mắc lên các cấp chính quyền thì bị trả lời loanh quanh gần 4 năm trời mà không được giải quyết, thậm chí họ còn “chỉ đạo” ngăn cản không cho bà con địa phương đến dâng hương vào ngày 14/3 hàng năm. Trước sự đấu tranh kiên trì của mọi người, thì năm ngoái vào ngày 19/4/ 2012, bia mộ anh Trần Văn Phương mới được khắc lại dòng chữ “anh hùng LLVTND”.


Read more…

Ngày Quốc tế Phụ nữ, nghĩ về tinh thần “Phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương

06:36 |
Lê Phước

Giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, chính quyền Vua Lê-Chúa Trịnh lâm cảnh suy vi, bất công xã hội dâng cao, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trong bối cảnh đó đã lần lượt xuất hiện bốn gương mặt nữ với tài hoa văn thơ xuất chúng, trong đó đặc biệt hơn hết là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chủ nhân của “Cổ Nguyệt Đường” đã thể hiện được tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam, không cam chịu số phận do xã hội áp đặt một cách bất công, một tinh thần có giá trị ở mọi thời đại.

Hồ Xuân Hương trong tranh Bùi Xuân Phái

Bốn nữ danh sĩ nêu trên là: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công chúa và Hồ Xuân Hương. Để tìm hiểu về lịch sử văn học giai đoạn này nói chung và tài hoa, tư tưởng của tứ đại nữ sĩ này nói riêng, RFI trao đổi với Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần là một nhà sử học, nhà văn hóa kỳ cựu tại Việt Nam với nhiều công trình khoa học có giá trị. Đặc biệt, Giáo sư cũng là một nhà Hán-Nôm lớn, am hiểu sâu sắc về thơ văn chữ Nôm, đặc biệt là về Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Lê Phước: Trước tiên xin Giáo sư sơ lược đôi nét về bối cảnh lịch sử văn học của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19?

Phần âm thanhhttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-listen.pnghttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-download.png

Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Văn học dân tộc đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Đó là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam.

Về lực lượng sáng tác, đây là thời kỳ xuất hiện rất đông đảo đội ngũ những người cầm bút tài hoa. Về tổ chức, đây cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều tổ chức mới, đặc biệt là Tao Đàn Chiêu Anh Các ở phía nam, thành lập vào năm 1736. Về tính đa dạng của đề tài, người ta thấy khác hẳn trước đó. Trong giai đoạn này, văn học tập trung ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi đất nước, ca ngợi thú chơi tao nhã của kẻ sĩ, và đặc biệt là về số phận con người, đồng thời thuật lại rất nhiều câu chuyện ly kỳ.

Về thể loại, ta thấy văn học giai đoạn này rất phong phú. Ngoài những tác phẩm sáng tác theo niêm luật của Trung Quốc cũ, thì các thể loại văn học dân tộc cũng ra đời và đạt được hiệu quả nghệ thuật rất cao. Về giá trị tư tưởng và giá trị văn học, thì cái mới và nét đặc biệt đã được thể hiện rất rõ.

Về tác phẩm, trước hết, ngoài một số tác phẩm của văn học Tây Sơn, số còn lại thiếu vắng hẳn những áng hùng văn. Nhưng thay vào đó có nhiều tác phẩm ca ngợi thiên nhiên đất nước, ca ngợi thú vui tao nhã của kẻ sĩ, như cầm, kỳ, thi, họa. Và lần đầu tiên con người, đặc biệt là người phụ nữ được đề cập đến một cách mạnh mẽ.

Về văn từ sử dụng, thì trong giai đoạn văn học này, chữ Nôm đã chiếm ưu thế trên văn đàn. Những tác phẩm lớn nhất về thể loại sáng tác, thì người ta thấy rằng,ngoài các loại cổ văn viết theo niêm luật cũ vẫn được sử dụng như câu đối, phú, chế, chiếu, biểu và các loại Đường thi… Người ta còn thấy nhiều thể loại văn học dân tộc cũng được sử dụng một cách phổ biến và đạt được những thành tựu nghệ thuật rất lớn lao, ví dụ như thơ lục bát, song thất lục bát, hay truyện thơ Nôm.

Đây cũng là giai đoạn mà đội ngũ tác giả cũng có những nét mới. Từ đây, thành phần xuất thân của đội ngũ người cầm bút có phong phú hơn giai đoạn trước. Ví dụ ở đây có cả đạo sĩ và nhà sư tham gia vào Tao Đàn Chiêu Anh Các.

Lê Phước: Thưa giáo sư, trong bối cảnh đó ta thấy trên thi đàn xuất hiện bốn nữ sĩ tài hoa, tiếng tăm vẫn còn vang vội đến hiện tại. Vậy xin Giáo Sư minh thị đôi điều về bốn cây bút nữ này?

Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Trong giai đoạn lịch sử văn học này, lnhiều tác giả nữ tài hoa đã nối nhau xuất hiện. Họ đã làm cho đời sống văn hóa và văn học trở nên sinh động, họ đã có những cống hiến rất đáng để đời đời ghi nhớ. Trong những cây bút nữ tài hoa của giai đoạn này, ta thấy nổi lên bốn tác giả tiêu biểu sau đây:

1) Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm sinh vào năm 1705, mất năm 1748, hưởng dương 43 tuổi, quê quán ở huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc cũ, nay thuộc Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên. Thật ra, tổ tiên của bà là người họ Lê, và đến đời cha của bà là Đoàn Doãn Nghi mới đổi sang họ Đoàn. Chồng của bà là tiến sĩ Nguyễn Kiều, và bà là tác giả chính của Truyền Kỳ Tân Xã. Sở dĩ tôi nói là tác giả chính là bởi vì Truyền Kỳ Tân Xã chép nhiều chuyện ly kỳ, nhưng trong đó, theo nhiều nhà nghiên cứu, thì Truyền Kỳ Tân Xã chỉ có một số phần là do bà Đoàn Thị Điểm viết. Dù vậy, tên tuổi của bà trong Truyền Kỳ Tân Xã vẫn được đời đời ghi nhận, bởi bà đã tỏ rõ sự sắc sảo, sự tài hoa của mình.

Đoàn Thị Điểm cũng là một trong những dịch giả của Chinh Phụ Ngâm Khúc. Bản Chinh Phụ Ngâm được dùng phổ biến ngày nay là bản dịch của Phan Huy Ích. Chinh Phụ Ngâm có nhiều bản dịch khác nhau, trong đó có bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Chúng ta thấy rằng, chất nữ tính trong bản dịch của Đoàn Thị Điểm thể hiện rất rõ, và chất nữ tính này cũng đã được Phan Huy Ích nghiên cứu và kế thừa.

2) Bà Huyện Thanh Quan

Cây bút nữ thứ hai rất nổi tiếng và tài hoa là Bà Huyện Thanh Quan. Bà có cùng năm sinh và năm mất với Đoàn Thị Điểm. Tên thật của bà Nguyễn Thị Hinh. Chồng bà là Lưu Nghị, từng làm huyện lệnh huyện Thanh Quan, nên người đời mới gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là người làng Nghi Tàm nay thuộc Hà Nội. Cha của bà là Nguyễn Lý, đỗ thủ khoa trong một khoa thi dưới thời hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là học trò của tiến sĩ Phạm Quý Thích. Bà Huyện Thanh Quan từng được giao dạy học cho công chúa và cung nữ dưới thời vua Minh Mạng, vì thế bản thân bà cũng là một trong những học quan tài ba.

Bà Huyện Thanh Quan đã để lại khá nhiều tác phẩm tiêu biểu, ví dụ như tác phẩm Thăng Long Thành Hoài Cổ. Hẳn là chúng ta ai cũng từng nghe câu:

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Hay là bài Qua Chùa Trấn Bắc, rồi Chiều Hôm Nhớ Nhà, nhưng đặc biệt hơn hết là bài Qua Đèo Ngang hầu như ai cũng đều thuộc cả.

3) Công chúa Ngọc Hân

Nhân vật thứ ba rất nổi tiếng là Ngọc Hân công chúa. Bà sinh năm 1770 và mất năm 1799, hưởng dương 29 tuổi. Ngọc Hân công chúa là con của hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là Bắc Cung Hoàng Hậu của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, và là tác giả của bài Ai Tư Vãn, một tác phẩm có giá trị.

Lúc bà đến với Nguyễn Huệ là chuyện “Cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đấy”. Thế nhưng, về sau khi sống với Nguyễn Huệ, trọng đức, phục tài của Nguyễn Huệ, nên tình yêu của bà đối với Quang Trung Nguyễn Huệ trở nên đằm thắm và nồng nàn. Nhưng lúc tình yêu phát triển đến đỉnh cao thì Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Và bà đã viết bài Ai Tư Vãn để khóc chồng, cũng là để khóc một vị hoàng đế tài hoa, khóc một vị danh tướng đã có nhiều công lao to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.

4) Hồ Xuân Hương

Cây đại bút thứ tư rất nổi tiếng của giai đoạn lịch sử này là Hồ Xuân Hương. Nguyên quán của bà là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thân sinh của bà là Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Lưu, nên chúng tôi mới nói nguyên quán của bà là Quỳnh Lưu. Kỳ thực Hồ Phi Diễn đã ra dạy học ở vùng Kinh Bắc và kết duyên với một người phụ nữ họ Hà, sinh được duy nhất một con gái đó là Hồ Xuân Hương. Ở Bắc Ninh ngày nay vẫn còn một ngôi mộ ghi rõ là mộ của Hồ Xuân Hương, và ở đấy có bia ghi bà sinh năm 1772 và mất năm 1822.

Lê Phước: Trong bốn nữ sĩ nêu trên, ta thấy Hồ Xuân Hương có nhiều nét độc đáo riêng, bởi bà là người có tinh thần “phẫn nộ”, dùng ngòi bút đả phá mọi bất công - những nỗi bất công đè nặng trên đôi vai phụ nữ.

Trong xã hội phong kiến theo Nho Giáo ở Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thân phận người phụ nữ phải chịu nhiều điều thua thiệt so với cánh đàn ông. Ắt hẳn chúng ta ai cũng nằm lòng cái câu: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Người phụ nữ không bao giờ được làm chủ bản thân bởi sự ràng buộc của cái gọi là “Tam tòng”, theo đó “Tại gia tòng phụ-xuất giá tòng phu-phu tử tòng tử”, tức “Khi chưa chồng thì theo ý cha, khi có chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì phải theo con”.

Trở lại giai đoạn cuối triều Lê đầu triều Nguyễn, thân phận người phụ nữ có lẽ được thể hiện rõ nhất qua mấy câu thơ sau đây của đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

Đau đớn thay, phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

Hay như khi Thúy Kiều nói với Tú Bà:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Nước non lìa cửa lìa nhà đến đây

Và Hoạn Thư nói với Thúy Kiều:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

Phản ứng trước thực tại xã hội nam quyền đó, những phụ nữ chân yếu tay mềm biết làm gì hơn ngoài việc cam chịu. Đến như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan hay như Ngọc Hân Công chúa cũng chỉ biết dùng thơ văn để than thân trách phận mà thôi. Thế nhưng, đến với Hồ Xuân Hương lại hoàn toàn khác. Hồ Xuân Hương đã dùng ngòi bút đả phá mọi thứ bất công. Cái chí khí ngất trời của bà nào thua đấng mày râu như câu đối mà bà ứng khẩu đọc lên khi trượt chân vấp ngã và bị đám bạn thanh niên cười nhạo:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

Cái chí khí đó, cái tinh thần đó được Hồ Xuân Hương thể hiện qua những vần thơ với lời lẽ mộc mạc mà ý tứ thì vô cùng thâm thúy

Đi sâu vào chủ đề này, Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần phân tích:

Hồ Xuân Hương từ nhỏ đã nổi tiếng là người tài hoa. Và khi lớn lên thì tài hoa đó đã phát triển mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu to lớn. Vì cha bà là nhà giáo, nên từ nhỏ Hồ Xuân Hương đã được học chữ. Bà đã bắt đầu cầm bút từ nhỏ và trở thành người nổi tiếng về văn chương từ lúc thiếu niên.

Khi lớn lên, Hồ Xuân Hương đã mấy lần lấy chồng. Người chồng thứ nhất là ông Tổng Cóc. Người chồng thứ hai là ông phủ Vĩnh Tường. Xưa nay người ta cũng chỉ nói đến hai người chồng này thôi. Cả hai lần lấy chồng bà đều làm vợ bé. Và cả hai lần thì hai người chồng đều sớm qua đời. Theo kết quả tìm hiểu của chúng tôi, bà còn có người chồng thứ ba, đó là Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Và lần này bà cũng chỉ là vợ bé. Nhưng rồi ông chồng thứ ba cũng qua đời. Kể từ đó bà không còn kết duyên với ai nữa.

Hồ Xuân Hương mở một quán giải khát ở Hà Nội, và đấy chính là nơi gặp gỡ của các tao nhân mặc khách. Đó cũng chính là nơi mà tiếng thơ của Hồ Xuân Hương đã vang lên, không những Thăng Long, mà là cả nước, không những ở thế kỷ 18 hay đến thế kỷ 19, mà còn vang mãi đến hôm nay.

Cố thi sĩ Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là « Bà chúa thơ Nôm ». Cách gọi ấy rõ ràng là hoàn toàn xứng đáng.

Trước hết, bà là nhà thơ của phụ nữ, nói lên tiếng nói kết tinh những khát vọng chân chính và cháy bỏng của phụ nữ, thật sự cảm thông sâu sắc và ân cần chia sẻ bao nỗi đắng cay của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đồng thời, Hồ Xuân Hương lên án sự bất công đối với phụ nữ, chất chứa trong vô số những thói tục hủ lậu, mà đặc biệt là tục đa thê:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ châm biếm cay nghiệt đối với mọi thói hư tật xấu của xã hội. Chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương khiến cho bất cứ ai hễ đọc được cũng đều nhớ ngay, và hễ đã nhớ thì lại muốn đọc cho người khác biết. Quy mô của việc truyền khẩu ngày càng lớn đã biến thơ Hồ Xuân Hương thành một hiện tượng rất độc đáo của đời sống văn học. Những kẻ bất tài mà cũng dám cả gan ngâm vịnh, xướng họa, bị bà mỉa mai, xếp vào hàng:

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa

Hay những kẻ không hề có lý tưởng tu hành, chỉ chui vào chùa như một cuộc trốn chạy sự truy đuổi của xã hội, và đôi chân lấm bụi đời của họ đã làm ô uế nơi tôn nghiêm bị bà thẳng thừng chỉ trích:

Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà

Bà thấy rất rõ, phía trong của những áo mũ xênh xang của đấng phụ mẫu tri dân là lòng phàm thô tục. Dáng vẻ đạo mạo bên ngoài của họ không đủ để che khuất những thèm khát tầm thường ẩn giấu bên trong:

Chúa dấu Vua yêu một chút này

Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, thật hiếm có những ai có tài năng dùng ngôn ngữ bình dân để diễn đạt một cách thiên tài những vấn đề rất tế nhị của cuộc sống đời thường như Hồ Xuân Hương.

Ngoài sự khẳng khái đấu tranh chống lại bất công đối với phụ nữ, ngoài chất trào lộng và châm biếm gay gắt, Hồ Xuân Hương còn là nhà thơ trữ tình nồng nàn, yêu đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương, thiên nhiên không phải chỉ có vẻ đẹp của dáng hình, mà còn có cả sắc màu âm thanh, và cả cái tâm của người ngắm cảnh:

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương reo

Không ít lần trong thơ Hồ Xuân Hương, tình cảm kín đáo và đằm thắm của người phụ nữ Việt Nam hiện lên một cách rất rõ. Có cái gì đó nửa như xa lạ, nửa như gần gũi, cũng là rất Hồ Xuân Hương:

Năm canh lơ lửng chờ ai đó,
Hay có tình riêng với nước non

Đọc Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy một thiên tài văn học, chúng ta thấy một niềm tự hào về một người phụ nữ tài hoa và về dòng văn học do những người phụ nữ khởi xướng vào thế kỷ 18 và 19.

Lê Phước: Đến đây, ta thấy rằng, ngòi bút của Hồ Xuân Hương không kiêng nể một ai cả. Sự không kiêng nể này không phải là thể hiện thái độ vô lễ trong cách cư xử, mà là để nhắm đến mục tiêu cao cả khác: Đả phá bất công, vượt vòng kiềm tỏa mà xã hội dùng để trói buộc thân phận người phụ nữ. Hồ Xuân Hương chửi từ vua đến quan, từ thói hư tật xấu ngoài đời đến những biến chất tiêu cực trong nhà chùa. Bà đã khéo léo dùng tài văn chương của mình để làm đảo lộn cả trật tự nam-nữ trong xã hội Nho Giáo khi bà không ngại mỉa mai người quân tử trong bài Thiếu nữ ngủ ngày:

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông

Chúng ta thấy thiếu nữ ngủ ngày một cách hết sức hở hang và hớ hênh. Thế nhưng cái thâm ý ở đây là Hồ Xuân Hương muốn cho thấy người phụ nữ nằm ngủ kia đã vượt khỏi những ràng buộc áp đặt người phụ nữ trong chốn khuê phòng, một cách ngủ mà mấy nhà nho cổ hủ đều lên gân chửi.

Ấy thế mà, bộ mặt thật của đấng quân tử làm ra vẻ đường hoàng kia rốt cuộc cũng chỉ là một tay “phàm phu tục tử”, bởi khi thấy người phụ nữ vô ý vô tứ như thế thì đấng quân tử đã ứng xử như vầy:

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong

Hay như trong bài Vịnh cái quạt, Hồ Xuân Hương đã tả cái quạt như sau

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

Đọc qua thì chắc là ai cũng hiểu là lợi dụng việc tả cây quạt Hồ Xuân Hương muốn ám chỉ đến cái gì. Ấy thế mà, Hồ Xuân Hương lại đặt « cái đó » lên đầu người quân tử:

Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa

Trong xã hội phong kiến suy tàn hồi cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, một xã hội Nho Giáo cổ hủ, một xã hội chiến tranh loạn lạc, bất công đầy rẫy, thân phận người phụ nữ bị ràng buộc bởi những điều khắc khe nhất của Nho Giáo. Ấy thế mà lạ thay, lại xuất hiện tứ đại nữ sĩ với tài văn thơ nào kém cánh mày râu, tài năng hơn xa những “đấng trượng phu” học hành không vì mở mang kiến thức mà vì ngắm nghía công danh lợi lộc chốn quan trường.

Hồ Xuân Hương nổi lên như một hiện tượng với một tài văn thơ xuất chúng, với một tinh thần “phẫn nộ” trước những bất công đè nặng lên thân phận người phụ nữ. Trong xã hội hiện đại, đâu đó trên thế giới vẫn còn nhiều thân phận phụ nữ “Bảy nổi ba chìm với nước non”, đã có nhiều phụ nữ “phẫn nộ” lao vào những cuộc đấu tranh đòi bình đẳng.

Và hôm nay ngày Quốc tế Phụ nữ, giở qua các trang báo ta thấy những thống kê gây quan ngại về thân phận người phụ nữ ở một số nơi trên thế giới : nào là nạn hiếp dâm phụ nữ không bị trừng phạt, nào và bạo hành gia đình đối với phụ nữ, nào là nạn tảo hôn …Nói chung là một quang cảnh u ám về quyền phụ nữ. Trong bối cảnh đó, đọc lại tinh thần « phẫn nộ » của Hồ Xuân Hương ta thấy rằng, tinh thần đó vẫn còn nguyên giá trị.

Theo RFI
Read more…

Mùng 8 tháng 3 giữa ngã ba Bồng Lộc

23:52 |
Lời Tác Giả: Cứ gần sát ngày 8/3 hàng năm, rất nhiều người đã đến thắp hương trên mộ phần của mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc vì mọi người tin rằng mười cô gái ấy rất thiêng bởi họ đều chết trẻ và chưa cô nào có chồng.

Võ Thị Tần

Người có chức quyền thì đến cầu các cô phù hộ cho họ mau thăng tiến. Người đi buôn thì cầu các cô phù hộ cho họ làm ăn phát tài. Các cặp trai gái yêu nhau đến xin các cô ấy phù hộ cho họ có được gia đình hạnh phúc. Nhiều đại gia mang cây cảnh đến đây trồng có khắc họ tên hẳn hoi để nhờ các cô ấy phù hộ đích danh.

Còn tôi hễ có dịp về quê là lại đến đây để khóc thương các cô gái ấy đã chết trẻ, trong đó có Võ Thị Tần là người bạn chăn trâu thời niên thiếu đói khổ của tôi. Ôi! Giá mà không có cuộc nội chiến 1955-1975 thì các cô ấy nay chắc đã có gia đình con cháu, tôi và Võ Thị Tần biết đâu lại có thể tiếp tục giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Hồi CCRĐ, nếu tôi không được cô ấy bênh vực thì mấy thằng bé con nhà nông dân đã xô tôi ngã xuống vực sâu rồi. Tần ơi! Tôi đã nợ bạn một mạng sống mà sẽ không bao giờ có thể đáp đền được nữa!

MÙNG 8 THÁNG 3 GIỮA NGÃ BA ĐỒNG LỘC

(Kính viếng Hương Hồn 10 cô gái Ngã Ba Đồng Lộc)

Hôm nay đứng đây giữa Ngã Ba Đồng Lộc[1]
Như thấp thoáng bóng ai trên đỉnh núi mờ sương
Phải chăng ở tận Cõi Niết Bàn các cô đang cầu nguyện
Hòa bình cho các em bé thơ ngây trên đất mẹ yêu thương?

Thung lũng bình yên này có một thời suốt ngày đêm bom dội
Đã biến Đồng Lộc thành danh, tên của một Ngã Ba đường
Hàng vạn xe xuyên đạn bom ngày nối đêm ra tiền tuyến
Bom đạn dội đêm nối ngày gây chết chóc đau thương!

Kìa Rú Trọ Voi đất đá bị cày xới suốt đêm ngày
Rú Mũi Mác đã trở thành một trận địa bắn máy bay
Còn Rú Môi che mặt trời cho TNXP làm đường đỡ nắng
Bốn phía quanh Ngã Ba, những đồi cây bị xới cày khô trắng!

Nhưng những đoàn xe ngụy trang lại hóa thành một rừng cây
Che chở TNXP đang thông đường cho xe vào hỏa tuyến
Nhiều cô gái nén lòng chia xa mối tình đầu lưu luyến
Bị bắt phải lấp hố bom để giữ vững Ngã Ba này!

Vào 5 giờ chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968
Một quả Bom Mỹ rơi trúng tiểu đội Võ Thị Tần
Suốt mấy ngày bới tìm xác những nàng tiên dũng cảm
Tần, Hợi, Cúc, Rạng, Xanh, Hường, Hạ, Nhỏ, Xuân, Xuân![2]

Ôi! Di ảnh trên Mộ Phần của nhiều cô chưa qua tuổi hai mươi
Chiều muộn trước khi về chốn Bồng Lai, chưa cô nào ăn tối!
Khóc bên mộ các cô, mẹ đặt nắm cơm cùng nhúm muối:
“Các con đã ra đi thác xuống làm ma đói, các con ơi!”

Trước Mộ Mười Cô không ai ngăn được nước mắt rơi!
Vừa đuổi được Tây, thì đã có kẻ đón giặc Tàu vào đầu ngõ
Chúng đã cưỡng chiếm Hoàng Sa, nay lại đang dùng tiền dụ dỗ
Bè đảng Trần Ích Tắc cố vị tham quyền mưu bán nước, các cô ơi!

Chúng xây Tượng Đài TNXP thật to để canh cho chúng ăn chơi
Vườn ruộng, đất nhà, cả mồ mả tổ tiên chúng bắt phải di dời
Để xây dự án làm giàu cho cháu con, cả bầy tư bản đỏ
Dân khiếu kiện đòi đất nhà bị đàn áp chưa từng có!

Đây là Ngã Ba Linh Thiêng giữa thung lũng Đất Trời
Vận mệnh Non Sông trước Ngã Ba, nhân dân cần lựa chọn!
Giữ độc lập cho non sông, hay bán rẻ Giang Sơn cho Hoa Cộng?
Xin hàng triệu Hương Hồn các chị các anh đã ngã xuống trả lời tôi!

Đầu năm mới 2013 cả dân tộc Việt Nam đang nhiệt thành trao đổi
Góp ý kiến sửa đổi Hiến Pháp 92 vì vận mệnh của Giang Sơn
Các cô thích dân ta được sở hữu ruộng đất để xây đời mới
Hay chấp nhận kiếp cày thuê cho bọn “đầy tớ” vong ơn?

Các cô thích chấp nhận để nhân dân bị xéo dày mãi mãi
Bởi lũ lãnh đạo độc tài hay thích được làm chủ quê hương?
Thích dân ta được quyền tự lựa chọn lấy những người lãnh đạo
Bảo vệ quyền lợi cho chính mình hay để loài độc đảng cầm cương?

Các cô đã phải hi sinh cả cuộc đời mình vì độc lập tự do cho Tổ Quốc
Vậy mà nay đất nước bị lệ thuộc giặc Tàu, làm sao khỏi đớn đau?
Ngư dân ta trên biển thường xuyên bị giặc Tàu xâm phạm
Hồn các cô có linh thiêng xin hãy cứu vớt đồng bào!

Mùng 8/3 lần thứ 44 của Mười Cô nơi Cõi Phật đến rồi!
Tại Đồng Lộc tôi xin có một vài lời với “Người cùng tuổi”[3]
Cùng yêu nước thương nhà, cùng lớn lên trên quê hương nghèo đói
“Xin hẹn gặp lại nhau tại Ngã Ba Chốn Bồng Lai, để cùng đi dạo Tần ơi!”

Nơi Cõi Thiêng chúng ta sẽ cùng nguyện cầu Đức Phật, lạy Chúa Trời
Hãy giúp cho dân tộc mình lấy lại được những tinh thần dũng cảm
Của Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn...
Để đòi lại Hoàng Sa và Biển Đông cho Đất Mẹ, các cô ơi!

Ngã Ba Đồng Lộc, 7/3/ 2013.

©Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1]- Ngã Ba Đồng Lộc thuộc xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đó là một nơi có các đồi núi như Rú Mũi Mác, Rú Trọ Voi, Rú Môi...quây quần thành một thung lũng nằm trên con đường tiếp tế của Miền Bắc vào chiến trường trong cuộc nội chiến Bắc Nam trước 1975. Những năm từ 1965, quân đội Mỹ đã dội xuống đây hàng trăm ngàn tấn bom đạn để cắt đứt đường tiếp tế của Miền Bắc vào xâm chiếm Miền Nam.

[2]- Tên mười cô gái Thanh Niên Xung Phong (TNXP) làm đường đã bị chết cùng một lúc tại Ngã Ba Đồng Lộc vì một quả bom của quân đội Mỹ rơi đúng nơi các cô đang san đường vào khoảng 5 giờ chiều ngày 24/7/1968 khi các cô chưa được ăn cơm tối.

[3]- “Người cùng tuổi”: Võ Thị Tần, tiểu đội trưởng tiểu đội TNXP đã hi sinh hôm 24/7/1968 tại Ngã Ba Đồng Lộc. Cô ấy cùng tuổi và là bạn thiếu thời cùng chăn trâu cắt cỏ trong thời gian tác giả phải đi ở chăn trâu để kiếm sống (CCRĐ: 1954-1955), người xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, quê ngoại của tác giả.


Read more…

Xin ông hãy ngẫm lại lời mình nói!

00:06 |

Lời Dẫn: Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau:

“Các đồng chí phải lãnh đạo cái việc góp ý kiến dự thảo sửa đổi hiến pháp. Cái này quan trọng lắm đấy.Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống chứ còn gì nữa. Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Hả? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa, chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, kí đơn tập thể...thì nó là cái gì? Cho nên các đồng chí phải quan tâm xử lý cái này.”

Xin ông hãy ngẫm lại lời mình nói!
(Kính gửi ông TBT Nguyễn Phú Trọng và mến 
tặng nhà báo Nguyễn Đắc Kiên)

Nghe ông nói tại Vĩnh Phúc mà tôi thương ông quá!
Ông mới chỉ bảy mươi mà giờ đã lẫn đến thế sao?
Ông đang muốn toàn dân góp ý cho hiến pháp
Nghĩa là ông đang cần dân nói thật, phải không nào?

Dân còn rụt rè chỉ mới một số người góp ý
Họ đã dốc cả toàn tâm để góp ý kiến thật lòng
Họ nói thật vì mong muốn lợi ích cho đất nước
Sao thời gian góp ý còn dài mà đã quy chụp, thưa ông?

Góp ý kiến thế nào là quyền của người dân chứ?
Nếu ông không muốn nghe sao lại xin ý kiến làm gì?
Ông đã quen được nịnh bợ rồi nên nói thật thì phật ý?
Hay ông là vua nên có quyền chụp mũ để ra uy?

Ông có biết “suy thoái chính trị” nghĩa là gì không?
Là Cương Lĩnh nói một đằng mà đảng ông làm một khác
Mồm hô “xây xã hội không có kẻ giàu người nghèo, giai cấp”
Vậy trong xã hội mà ông đang làm vua, ông có thấy thế không?

Ngày xưa nghèo đói, bất công là đổ tội cho thực dân đế quốc
Còn nay đã 38 năm đảng ông được lãnh đạo toàn quyền
Dân đã sướng chưa khi cơm chưa no, nhà ở còn chui rúc
Mà lãnh đạo dưới quyền ông thừa biệt thự, xe riêng?

Đảng cầm quyền mà như thế là “suy thoái về chính trị”
Không chỉ chứa một con sâu mà chứa cả một bầy sâu
Một con sâu trung bình phá của nhân dân ngàn tỷ
Vậy ở hội nghị TW vừa rồi, ông đã xử lý đến đâu?

“Suy thoái đạo đức” để chỉ những kẻ lừa dân, phản đảng
Chỉ vì đồng đô la mà bán tài nguyên, bán biển đảo cho Tàu
Đảng Bộ tỉnh Vĩnh Phúc có làm được điều đó không, ông hỡi?
Mà ông bắt lãnh đạo tỉnh nghe toàn những chuyện không đâu!

“Suy thoái tư tưởng” ư? Tư tưởng gì, dân hỏi?
Hay ông ám chỉ Liên Xô, Đông Âu bỏ cờ đỏ búa liềm
Và phê phán ngài Putin đã đưa nước Nga thoát khỏi
Một chế độ độc đảng độc tài làm dân khổ triền miên?

Vì đâu dân khiếu kiện đông người, ông không biết thật sao?
Hay ông nghĩ các “thế lực thù địch” xui dân đi khiếu kiện
Ông hãy đến vườn hoa Lý Tự Trọng một lần xem xuất hiện
“Thế lực thù địch” xui dân chính là “bọn đầy tớ” được dân bầu!

Ngày ông học cùng tôi trên Đại Từ, ông hiền lành ít nói[1]
Nay đã được làm vua của muôn dân, lẽ ra phải kiệm lời
Không thể nói huyên thuyên như hồi vào làng đi mua sắn
Vua cũng phải học làm vua chứ đâu thể tùy tiện ông ơi!

Nhân tiện đây, tôi cũng xin góp vài lời cho hiến pháp
Độc đảng quá lạc hậu rồi, ông nên ngẫm lại coi!
Tổng Thống Myanmar đã tự nguyện bắt tay phe đối lập[2]
Để cùng nhau dựng xây Myanmar dân chủ cứu giống nòi

Vừa tránh bạo loạn như Trung Đông mà chức quyền vẫn giữ
Ôi ngài tổng thống Thein Sein vĩ đại biết nhường nào!
Vì lợi quyền của nhân dân ngài sẵn sàng xin thoái vị
Chế độ mình “văn minh hơn” mà không làm được thế hay sao?

Ông thừa biết tôi là ai nên muốn bắt tôi lúc nào thì bắt
Tôi không quan tâm mà chỉ thương đất nước mình thôi
Tôi chỉ cầu mong ông đừng để nhân dân cơ cực quá
Rồi lại bạo loạn nổi lên làm đau đớn giống nòi!

Vậy, tôi xin ông hãy ngẫm lại lời mình nói!
Dân tộc mình đã phải hi sinh gần thế kỷ nay rồi
Nhân dân ta quá hiền lành, họ đã vì Tổ Quốc mà nói
Ông đừng quy chụp, đàn áp, bỏ tù mà tội nghiệp họ ông ơi!

Hà Nội, 28/2/2013

© Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1]- Tôi và TBT Nguyễn Phú Trọng đều cùng tuổi và cùng học trường đại học Tổng Hợp Hà Nội, ông ấy học Khoa Văn còn tôi học Khoa Toán. Từ 1965, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội phải sơ tán lên huyện Đại Từ, một huyện miền núi rất nghèo của tỉnh Thái Nguyên. Vì đói nên chúng tôi thường phải vào làng để mua sắn về nấu cháo cải thiện vào ban đêm. Dân ở đó nay vẫn còn nghèo lắm!

[2]- Tổng thống đương nhiệm Thein Sein của Myanmar đã tự nguyện hợp tác với phe đối lập của bà Aung San Suu Kyi để mở mang nền dân chủ cho đất nước. Đây là một mô hình chuyển từ độc tài sang dân chủ một cách ôn hòa và rất nhân văn. Ước gì Việt Nam chúng ta cũng được đi theo con đường của Mùa Xuân Miến Điện!
Read more…

Thơ và người dịch

05:37 |
Bảo Như

Có những câu thơ làm người ta nhớ mãi. Với tôi thì đó là câu thơ “Lòng ta chôn một khối tình, tình trong giây phút mà thành thiên thu” dù rằng lúc “bắt gặp” nó tôi còn là nhi đồng, chẳng để ý gì đến thơ và chưa biết … yêu là gì. Tôi vẫn nhớ đọc được câu thơ đó khi mới khoảng mười tuổi, trên trang đầu, tách biệt sau cái tựa truyện và trước phần vào truyện, một tiểu thuyết của Khái Hưng. Mãi đến mấy mươi năm sau, tôi mới lò dò tìm ra được đó là từ bài thơ Pháp Un Secret của Felix Arvers, cũng là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông. Nếu Khái Hưng chỉ dịch một cách đơn giản và chính xác từ nguyên tác “Mon âme a son secret, ma vie a son mystère: Un amour éternel en un moment conçu.” Có nghĩa “Tâm hồn tôi có một bí mật, bí ẩn của đời tôi: Một tình yêu vĩnh cửu đã chớm nở trong một giây phút.” Tin chắc là tôi đã chẳng nhớ câu dịch sát nghĩa này được đến ngày hôm sau. Vậy mới biết Khái Hưng đã thành công (và cũng xứng đáng) không kém gì Felix Arvers.
 
Chân dung Félix Arvers.
Nguồn ảnh: Wikipedia

Theo Francis R. Jones, giáo sư ngôn ngữ của Newcastle University, Anh Quốc, đồng thời là dịch giả của mười tập thơ từ các ngôn ngữ của vùng Đông Âu, thơ là thể loại quý giá trong cách diễn tả của nhân loại, và thơ cũng là những nguyên bản thử thách nhất đối với các người dịch thuật.

Tôi đã hiểu kinh nghiệm này. Đôi khi cảm xúc tôi có làm thơ và đôi lần hứng thú với một bài thơ ngoại quốc nào đó cũng dịch nó sang tiếng Việt, tạm ổn. Vì vậy tôi không nhận được ra được rằng công việc dịch thơ đòi hỏi người dịch ngoài tài làm thơ phải làm chủ ngôn ngữ muốn chuyển dịch như tiếng mẹ đẻ vậy. Cho đến một ngày, một người bạn Mỹ yêu cầu tôi dịch lại một bài thơ của tôi cho bà hiểu. Tôi chợt nhận ra rằng, với số năm sống ở Mỹ lâu hơn ở Việt Nam, với cuốn tự điển dày cộm để chọn chữ, tôi vẫn không thể chuyển dịch bài thơ của chính tôi cho “ra hồn” được.

Jennifer Liddy một thi sĩ và tác giả chuyên nghiệp, đã làm công việc chuyển dịch nhiều bài thơ của người Argentines sang Anh ngữ hiện sống tại Nhật và làm việc cho Bộ Giáo Dục Nhật Bản, tin rằng

“Dịch một bài thơ gần như là sáng tác thơ, phải cảm được những điều muốn nói, và phải rất chú tâm. Nên dịch thơ không thể là một công việc/job vì có hàng ngàn công việc dễ dàng hơn với thù lao cao hơn, nhưng dịch được thơ có hào quang riêng của nó: Chia sẻ văn hóa, vinh danh người thi sĩ, và nhắc nhở rằng chúng ta có thể vượt qua những biên giới ngôn ngữ.”

Bà đưa "phương pháp" rất kỳ công của bà, tóm lược như sau:

1. Đọc đi đọc lại bài thơ, cho tới khi quen thuộc trơn tru với các từ ngữ. Làm như vậy ta sẽ cảm được vần điệu của nó, lúc cách khoảng, lúc ngừng, lúc nhịp, làn cảm xúc. Chép tay lại bài thơ và copy thành 10 bản. Dán chúng ở những nơi quen thuộc như: nhà tắm, tủ bếp, tủ lạnh …. Nhìn những bản này thường sẽ làm bạn quen với ngữ pháp của bài thơ, đâu là chỗ các tính từ, chỗ nghỉ giữa các thì động từ…

2. Biết về tác giả bài thơ, đặt câu hỏi về bài thơ, cảm nghĩ khi viết bài thơ và ý nghĩa của nó, có phần hình tượng hay ngôn ngữ nào lập lại? Có điểm nào liên quan tới cuộc sống thật, quan niệm về thơ của thi sĩ. Hiểu biết càng nhiều về người thơ càng giúp ích cho bản thơ dịch.

3. Hướng tới nét duyên dáng tự nhiên. Không bám sát từng câu chữ, người đọc thưởng thức ý thơ, chứ không dò từng chữ xem có được dịch sát hay không.

4. Software của PC hay tự điển có thể giúp hiểu nghĩa, tìm từ, nhưng nói theo lối ẩn dụ, chúng chỉ giúp cho việc lắp ráp những mẩu xương, ngừơi dịch mới chính là người đặt trái tim, sức sống, qua ngôn ngữ, vào những mảnh xương đó.

5. Dịch xong bài thơ, bạn nên để yên ít ngày, thậm chí cả tuần, trứoc khi duyệt lại. Để thời giờ nghĩ đến chuyện khác với ngôn ngữ riêng mình. Rồi trở lại bài thơ sẽ thấy những điểm khúc mắc hay những điểm vừa ý.

Trong khi đó, Đinh Linh, một thi sĩ gốc Việt, sinh trưởng ở Mỹ từ năm 12 tuổi, cũng từng chuyển dịch nhiều bài thơ Việt sang Anh, lại nêu quan điểm về lối dịch thơ của ông, trong một bức thư cho bạn như sau:

“Tôi đã dịch rất nhiều thơ Việt sang tiếng Anh và thơ Mỹ sang tiếng Việt. Theo tôi, việc đầu tiên của người dịch là phải dịch sát nghĩa. Sau đó, người dịch phải trung thành với giọng, nhịp của nguyên bản. Dịch giả cũng nên tôn trọng cú pháp của nguyên bản nữa, không nên xáo trộn chấm, phảy... Còn có giữ được vần không, theo tôi không quan trọng lắm. Vì đạt được hai mục tiêu trên, sát nghĩa và sát giọng, thì đã khó lắm rồi. Tôi không phải đối phó với vấn đề này lắm vì phần đông những thơ tôi dịch là thơ tự do.

Phần đông những thơ vần Anh ngữ có 10 âm, 5 nhịp, vần ở chữ cuối. Thơ vần Việt Nam thì phần đông là lục bát, vần ở cuối và giữa câu. Theo tôi, điều tối kị là “Việt hoá” một câu thơ ngoại quốc, dịch sonnet thành lục bát chẳng hạn. Một trách nhiệm của người dịch là làm phong phú ngôn ngữ. Người dịch luôn luôn nên giới thiệu những cách viết lạ vào ngôn ngữ mình.”

So sánh quan điểm của hai dịch giả về thơ này, xem ra khá đối nghịch. Khó có thể kết luận đúng sai, nhưng từ kinh nghiệm đầu đời của tôi với bài thơ Un Secret do Khái Hưng dịch, tôi biết nếu Khái Hưng không phạm vào “điều tối kị” của Đinh Linh (dịch sonnet thành lục bát), bài thơ đã không đi vào lòng tôi sớm và dài lâu tới vậy. Tôi cho rằng nếu “trung thành” với cú pháp và “giọng,” từ một ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác sẽ đánh mất sức sống của bài thơ, nhất là khi ngôn ngữ nguyên bản thường xa lạ với người đọc. Đặt nhẹ vần điệu (sau cú pháp) cũng làm mất tính “thơ” của bản dịch.

Nhân đây xin nêu một bản thơ dịch của Đinh Linh trong bài Chửa Hoang của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, làm ví dụ cho một thất bại.


An Unplanned Pregnancy

My giving in yielded this mess.
Don't you realize my anguish?
Although destiny never raised its head,
There's a stroke across the willow tree.
It's a century-long bond, remember?
This loveload I'll be lugging.
Whatever the world's opinions,
To have child, without husband,
Is a very nice feat.


Chửa Hoang

Cả nể cho nên hóa dở dang.
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đành nẩy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch.
Không có nhưng mà có mới ngoan.



Nhà văn Khái Hưng, ảnh chụp thời trẻ tại Sa
 Pa Ảnh:Nguồn: ảnh của gia đình Khái Hưng

Bản dịch hoàn toàn thiếu vắng giọng trào phúng, và cách chơi chữ thâm thúy của nữ sĩ. Người viết không nghĩ có thể đòi hỏi dịch giả nào làm tốt hơn với lối thơ có một không hai của bà chúa Nôm, thêm vào cách chơi chữ không thể tìm được tương đồng trong ngôn ngữ khác, tuy nhiên, theo thiển ý, nếu không chuyển được tứ thơ và tính cách của lời thơ thì không nên dịch, dù với mục đích phổ biến văn hóa, vì sẽ nhận lại những khái niệm sai lạc. Giảng nghĩa nôm na bằng văn nói với bạn bè thì có thể.

Bỏ qua những đối nghịch trong quan niệm về dịch thơ, tôi tin rằng điều kiện chung cho một bài thơ dịch thành công là người dịch cũng phải là thi sĩ, cảm được bài thơ và thẩm thấu với ngôn ngữ thứ hai như tiếng mẹ đẻ. Cả ba yếu tố đều quan trọng ngang nhau, và lý do tôi gặp khó khăn dịch bài thơ của chính tôi cho người bạn Mỹ, vì tôi thiếu yếu tố thứ ba này. Anh ngữ vẫn không là "tiếng nước tôi" dù tôi hiểu, nói, viết và giao tiếp bằng Anh ngữ hàng ngày.

Cho nên khi được người bạn thiết chuyển dịch giúp bài thơ của tôi sang Anh ngữ, chỉ cần đọc bản dịch, tôi hiều mình thật rất may mắn khi có được một soul mate đúng nghĩa. Ngoài tài năng, nếu không “tâm giao” chị nhất định không diễn dịch được như thế. Viết đến đây, tôi thầm cám ơn chị, cám ơn cơ duyên đã cho tôi một tình bạn quý báu. Xin chia sẻ với bạn đọc bài thơ của chúng tôi. Nếu các bạn muốn thử nghiệm cách dịch thơ, hãy khoan đọc bản tiếng Anh, chọn vài câu bạn thích thú và thử dịch xem có ... bí như chính tác giả của nó không?


Những Con Sóng

Có những con sóng lặng lẽ ra khơi biển động
Ôm trong lòng sóng hoài bão giục thủy triều dâng
Trời Nam u uất, sóng réo
Tàu gieo tang tóc trên Biển Đông
Kìa dân mất đất không đừơng sống
Thù trong cấu kết với ngoại bang

Từ đó những con sóng ngầm dâng khát vọng
Không sống an nhiên, theo tiếng Nước gọi, dòng máu tự hào
Mặc khơi hung hãn, cơn cuồng bão
Như bạo quyền lang sói đang đảo điên
Tù ngục lao lung, lòng kiên vững không hề chao

Mẹ ơi lau nước mắt đừng khóc
Dân tộc mình bất khuất không thể mất
Đoàn con lớp lớp, những con sóng, dấn thân xa bờ …


Waves after waves…

The waves ripple out silently
To troubled waters, out to sea,
Bearing in their heart full of pride
The hope of rising to high tide …
Under the Nam’s troubled sky,
The ocean waves roar and cry:
“Han invaders tread the Eastern Sea,
Spreading terror, calamity…
People have lost their livelihood,
They lost their land, went without food…
And all to curse some insiders
Subservient to the invaders!”
From little waves’ undercurrent
Pent up angers burst out ocean:
The Nation calls us of one blood,
Garner our souls, waves into flood...
No gale tempest, no stormy sea,
No oppressor, no tyranny,
No jail wall, no brutality,
Can sway us in our destiny…
So dry your tears, oh dear Mother,
Your children stand, never falter,
Proud, and upright, brave and steadfast,
Thence forever, our Nation lasts…
Waves after waves, we, your children
Advance from shore to the open.


By TL


© DCVOnline



“Un Secret” của Felix Arves được viết theo thể Sonnet của Tây phương gồm 14 câu, niêm luật khắt khe. Xem nguyên bản và các bản dịch khác nhau tại đây.

Nguồn:
- http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7&rb=07
- http://www.writing-world.com/poetry/liddy.shtml
- http://wordswithoutborders.org/contributor/francis-r.-jones


Read more…

NGANG NGỬA DÂN VUA

03:35 |

NGANG NGỬA DÂN VUA

Trăng tròn đã tỏ tháng giêng
Có một nhà báo, ĐẮC KIÊN* sáng ngời
Khi vua Phú Trọng cất lời
Nói về suy thoái, cái thời lâu nay
Dân tình thế thái nguy thay
Chẳng ai dám cãi vua này lú lâu

*

Đắc Kiên anh dám đi đầu
Lập luận hỏi lại… những câu tuyệt vời
Vài lời với tổng TRỌNG ơi
Suy thoái.. hiến pháp.. những lời của dân
Đúng là hay.. lại rất gần
Những lời tâm huyết thay dân…., thẳng thừng
Hỏi ông PHÚ TRỌNG lừng khừng
Không muốn đa đảng… muốn dừng đấu tranh
Độc tài cứ thế hoành hành
Để tham nhũng phá tanh bành quốc gia
Tan hoang kinh tế nườc nhà
Cơ hàn thất nghiệp xót xa kêu trời
ĐẮC KIÊN anh đã cất lời
Hứng đòn sa thải cuộc đời biết anh
Biết mà chẳng sợ - xứng danh
Nhà báo tâm đức phá vành kim cô
Kể từ hội nghị Thành đô
Mắc vòng nô lệ, cơ đồ hôm nay
Tương lai đang ở tầm tay
Đổi thay đất nước cơ may một lần
ĐỨC KIÊN anh đã dấn thân
Cất lên tiếng nói giúp dân đổi đời

27/2/2013
© Hoàng Đức Doanh

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

NỖI MONG

03:44 |

NỖI MONG

Sinh con là mẹ cùng cha
Có hai điều ước , một là tròn vuông*
Chịu ăn để lớn bình thường
Như bao đứa khác được thương tình đời
Hai là học tập làm người
Biết yêu, biết ghét chuyện đời dối gian
Làm điều thiện, việc ác ngăn
Nên người quân tử, gian nan chẳng sờn
*
Dạy con nghĩa vụ mẹ cha
Vâng lời con sẽ nghe ra nhiều điều
Hiểu được điều tốt bao nhiêu
Là vốn sống đẹp được nhiều người yêu
Thực hành điều thiện càng nhiều
Tránh xa điều ác là điều rất hay
Tâm đức thể hiện thẳng ngay
Đừng nên thủ đoạn, mất hay cuối cùng
*
Là con dù gái hay trai
Sau này con lớn…trên vai nợ nần
Gia đình con nợ nặng cân
Tổ quốc vai phải mới cần đến con
Nợ nần kiếp trước vẫn còn
Đến lúc trả nợ…bố con mình cùng
Giữ gìn tổ quốc…vua Hùng
Đánh quân xâm lược, việc chung kiếp người
*
Học tập một việc trên đời
Giúp ta sáng dạ để rồi góp công
Cho mình,đất nước non sông
Nâng cao trí tuệ…hoa hồng hoa mai
Cho bao lớp trẻ tương lai
Có đà để tiến ngày mai huy hoàng
Nỗi mong thương nhớ mênh mang
Chờ đợi con đấy… Việt Nam anh hùng

* mẹ tròn con vuông

22-2-2013
QUÝ TỴ XUÂN

© Đặng Đình Hưng

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO



Read more…

Chùm thơ về Hà Nội - Phạm Ngọc Thái

09:45 |

NGHĨ VỀ HÀ NỘI

Hà Nội cứ suốt đời nghe lá rụng
Những ngọn đèn ô cửa mùa đông
Trái sấu nhỏ bàng hoàng như kỉ niệm
Nước hồ xanh rêu bám kín Tháp Rùa...

Hà Nội cứ rầm rì trang tình tự
Của những đôi trai gái bên bờ
Tà áo trắng em bay một thời thiếu nữ
Theo anh hoài tới tận lúc già nua.

Hà Nội mới mà như là cổ tích
Phía nhà ga đoàn tầu đến rồi đi
Những giọng nói lẫn vào lời gió thổi
Ai trở về và ai sắp chia ly?

Đêm tóc trắng lại nghĩ về Hà Nội
Nằm thở dài, nhớ quá! Bóng em xưa...




DẮT CON ĐI
Tặng con trai Phạm Ngọc Bảo
(viết năm con lên hai tuổi)

Cha dắt con đi dưới hàng cây khuya
Phố của con thầm yên giấc ngủ
Ngôi chùa cổ và bóng đa cổ thụ
Phía hồ Tây se gió chớm đông về.

Tiếng lá bay xao xác vọng tàn thu
Buổi chiến tranh âm hao còn vẳng lại
Những bề bộn đời thường chiều mệt mỏi
Con là hạt ngọc của lòng cha!

Quê hương là mái nhà con ở
Có thiên nhiên với con người nữa
Ngày mai rồi con sẽ lớn khôn
Cha dắt con nghe những hàng cây râm ran.

Ru khe khẽ tiếng gọi thầm trong cỏ
Đất cựa mình hay hạt đang nứt vỏ?
Trên nhành cao động nhỏ một loài chim
Cuộc sống nào cũng từ mầm sống gieo lên!

Cha đã cấy cánh đồng chung xã hội
Gần trọn cuộc mai lại nhường con cấy…
Nói làm gì, con sẽ thấy con ơi:
Lẫn trong đá sỏi cuộc đời,
con hãy tự tìm lấy sắc hoa tươi!




ĐÊM THĂNG LONG

Rụng xuống bờ hè nhỏ tôi yêu những câu thơ ngoài phố
Sợi tóc nào hoá lá để ru đêm.

Đêm Thăng Long đây đó ánh đèn
Đôi trai gái bên hồ khe khẽ ngủ...
Cơn gió thức cùng người thi sĩ
Đi lang thang về đâu?

Đêm Thăng Long trầm sâu, rất sâu
Lão hành khất trải mảnh chiếu nằm xuống đất
Cột thành xưa đứng nhìn ngước lên trời
Mấy ông quan to đi xe con về:
Bọn đánh bạc, người ơi!

© Phạm Ngọc Thái

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO




Read more…

HÀ LONG ĐÁP ĐỐI HÀ SỸ PHU TẾT QUÝ TỴ 2013

05:11 |

ĐỐI ĐÁP HÀ SỸ PHU TẾT QUÝ TỴ 2013

Hà Sỹ Phu
Rắn độc cuộn vòng HAI số TÁM
Khóa chặt NHÂN QUYỀN

Hà Long
Rồng thiêng quằn quại MỘT tâm TƯ
Tan tành DÂN CHỦ

Hà Sỹ Phu
THẮNG đã THUA chưa. Bên THẮNG cuộc
Nổi lên … đồng chí ẾCH

Hà Long
THUA chưa THẮNG được. Bởi THUA còn
Chưa có … kẻ đầu TÀU

Hà Sỹ Phu
Vận nước chẳng lo, rượu RẮN cứ say tràn QUÝ TỴ

Hà Long
Thù nhà lơ lửng, mơ RỒNG tiên hão suốt NHÂM THÌN


© Hà Long,
6.02.2013 tức 26 Tết Quý Tỵ
Xin kính chúc Năm mới Vận nước đổi mới !

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Nguyễn Tâm Thiện - Quân Đảng Cướp

13:09 |

QUÂN ĐẢNG CƯỚP

Bốn Mươi Lăm năm, Tết Mậu Thân, tàn sát chính đồng bào
Đảng cho là chiến thắng, là tự hào
Ôi xương trắng lấp vùi, máu đào tuôn chảy
Trời có mắt, đảng làm sao đưa tay đậy
Hố còn đây
Hầm còn đây
Những sọ còn đầy
Những thây chồng chất
Nhưng một điều mà tôi cho là ghê tởm nhất
Là thường nhật
Đảng rêu rao những điều không thật
Để tự vinh quang trên thân xác đồng bào…

Ba Mươi Bốn năm, Xuân Kỷ Mùi, biên giới trên cao
Lũ đồng chí đã ào sang xâm lược
Máu lại đổ cho những điều ngang ngược
Lại hố
Lại hầm
Lại thây
Lại sọ
Máu vẫn còn tanh mùi trong gió
Máu đồng bào
Máu chiến sĩ
Đã gục ngã bởi những lời hoa mỹ
Tình đồng chí môi răng
Những bản làng : bình điạ
Những thị xã : tan hoang
Những con đường còn dấu vết xe tăng
Quân xâm lược vẫn nghiễm nhiên là đồng chí ???
Những mộ bia bỗng nhiên thành di lụy
Đảng vội vàng đục bỏ, phi tang
Đổi Mười Sáu Chữ Vàng và Bốn Tốt đảng mang
Mặc Tổ Quốc tan hoang
Bằng những món hàng chưá đầy thuốc độc
Nhưng một điều tôi cho là độc nhất
Là giết mất lòng tự hào dân tộc
Ải Nam Quan, thác Bản Giốc…
Hoàng – Trường Sa tủi nhục khóc phân ly
Thịt của Mẹ mất đi
Thịt của Cha mất đi
Đảng mặc tất để đổi những gì đảng muốn !!!
Gò Đống Đa chẳng lẽ cúi đầu phiền muộn
Sóng Bạch Đằng mãi cuồn cuộn ầm vang
Những nắm tay Hội nghị Bình Than
Vẫn chắc nịch một lời Sát Thát
Đảng hèn nhát, dân tộc này không nhát
Đảng đớn hèn, dân tộc mãi vươn lên
Cần vạch mặt chỉ tên :
QUÂN ĐẢNG CƯỚP !!!

Strasbourg, 17/02/2013
Để ghi nhớ 34 năm ngày quân Trung Cộng xâm lược nước ta và sự hèn hạ của ĐCS VN

© Nguyễn Tâm Thiện (KVC)
------------------------------------
Nguồn:  Kỳ Văn Cục

Read more…

THÓI QUEN

00:30 |

THÓI QUEN

Có thể chê có thể khen
Nếp sống, trật tự đã quen bao đời
Nếu là …nó vẫn hợp thời
Vẫn vì cuộc sống con người xưa nay

*

Nếu nó…trở chứng thấy ngay
Nó đi ngược lại…lâu nay tôn thờ
Thói quen …tự đại…sờ sờ
Từ chuyện hình thức…đến thờ ghế trên
Ơn tình, ơn nghĩa, chả quên
Phong bì hậu hỹ…cho nên…mới thành.?

*

Thói quen như thế thì đành
Luật trời sai hẳn ta đành lặng im
Luật người như thế…mất tin
Luật pháp như vậy…ai tìm bao công
Thử hỏi …nhỏ nhẹ , được không
Nhà không có nóc, mưa giông…thấu trời
Ướt át như thể đất trời
Con người có thể …kệ thời… được không ?

*

Thói quen trời đất…bão giông
Con người muốn cấm…được không. ? bao giờ ?
Thực tế người việt đang chờ
Tự do- dân chủ - ước mơ - ngang người
Với năm châu, với loài người
Như lời bác dạy, sáng ngời …lòng tin

*

Thói quen trời đất không im
Con người tiến hóa, phải tìm điều hay
Cho mình , đất nước hàng ngày
Thói quen đúng nếp, dựng xây nước nhà…
Mong cho dân trí nở hoa
Đất nước dân chủ, xứng là việt nam…

Hà Nội, 16-2-2013
© SẮC XUÂN

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Đặng Huy Văn - Thà ơi em mau về đi học!

05:14 |

Lời Tác Giả: Những năm từ 1977 đến 1984, trường tôi có một vài lớp đại học tại chức tại tỉnh Cao Bằng. Tháng 11/1978, tôi đã lên thị xã Cao Bằng dạy học. Lớp tôi dạy khoảng 40 sinh viên phần lớn là cán bộ đang làm việc tại địa phương đi học. Nông Thi Thà là một nữ sinh viên trẻ trong lớp đó, tuổi mới 24 người dân tộc Tày xinh xắn quê tận trên Hạ Lang sát biên giới Việt Trung. Cuối tháng 3/1979, sau khi Tàu vừa rút khỏi Cao Bằng thì tôi lên dạy kì tiếp theo nhưng không còn được gặp lại cô sinh viên xinh đẹp đó nữa! Có thể cô ấy đã bị quân Tàu giết hại rồi vứt xác đâu đó, cũng có thể cô ấy bị giặc Tàu làm nhục nên đã quyên sinh? Cho đến tận bây giờ vẫn chưa có thông tin nào về số phận của cô sinh viên xinh đẹp Nông Thị Thà của tôi! Tôi căm thù bọn công sản Trung Quốc xâm lược đến tận xương tủy vì nhiều lẽ, mà một trong những lẽ đó có thể vì những người thân thiết của tôi ở Cao Bằng vào tháng 2 và tháng 3 năm 1979 đã bị giặc Tàu hãm hại một cách dã man như thời Trung Cổ!

ÔI THÀ ƠI EM MAU VỀ ĐI HỌC!
(Lời thương gửi một nữ sinh viên vào tháng 3/1979)

Thà ơi!
Cả lớp học tập trung rồi
Nay chỉ thiếu mỗi mình em
Giặc Tàu vừa rút đi
Nên cũng có vài sinh viên đến muộn
Nhưng hôm nay đã tới đủ rồi
Chỉ còn mình em chưa thấy xuống
Hay em gặp chuyện chẳng lành
Mà thầy không biết, em ơi!

Các bạn thưa
Do quân Tàu đến bất ngờ
Có thể em không chạy kịp
Cũng có thể em đã bị giặc Tàu bắn chết?
Nhưng biết đâu chúng đã giam em
Để thay nhau hành hạ xác thân?
Rồi ném xác em xuống lòng suối Hòa An!
Mấy bạn đã tìm đến tận văn phòng
Nơi năm ngoái em ở đây làm việc
Đã về cả nhà em ở Hạ Lang
Xem mế em có biết?
Quân Tàu đã rút đi hai tuần rồi
Mà không ai biết tin em!
Cả lớp chẳng rõ nay em ở đâu
Đang nhao nhác đi tìm

Rồi từ Hòa An tin về
Có một giếng thây người!
Tại xã Hưng Đạo, thôn Tổng Chúp(*)
Xác chồng chất rữa nát!
Hàng chục xác người bị chém phanh
Ngoài bờ khe vứt rải rác
Các bạn đã đến tận nơi
Mà không nhận dạng được xác em!

Có tin hôm 16/2/1979
Em lên Chợ Phục Hòa thăm bạn
Nhưng bạn gái em ở Phục Hòa
Hôm 28/2 cũng đã bị giặc phanh thây!
Vậy sáng sớm ngày 17/2 em ở đâu
Giờ biết hỏi ai đây?

Thầy chỉ nhớ như mơ
Những chiều trên bục giảng
Ngay giữa thị xã Cao Bằng
Giảng đường cũng khang trang
Em thường ngồi bên cửa sổ
Và chăm chăm nhìn lên bảng
Má ửng đỏ mắt đen huyền
Hồn đâu đó xa xăm...

Giờ đây vắng em!
Và giảng đường xưa
Cũng đã bị giặc Tàu đập nát
Cả thị xã Cao Bằng chỉ còn lại
Bãi gạch vụn giữa tan hoang xơ xác
Những sinh viên ngồi co ro
Trong gian nhà tạm lợp gianh
Bục giảng bằng đất, bàn ghế thầy
Là mảnh ván vỡ ghép thành
Bàn ghế của sinh viên
Làm tạm bằng tre nứa
Nhưng cái trống vắng lớn nhất
Là em không còn đó nữa!
Bên cửa sổ của “Giảng đường”
Đâu đôi mắt huyền đen?

Ôi Thà ơi em mau về đi học!
Cả lớp thương nhớ em
Nhiều đêm thầy cũng khóc
Mế già rồi sao có thể xa em?
Hạ Lang mùa xuân khe nước chảy êm đềm
Vẫn nhớ em những chiều ra suối tắm
“Chiều Biên Giới anh ơi!” Lời ca ai say đắm?
Như gọi hồn người Tử Sĩ Biên Cương
Đã bỏ mình vì Đất Mẹ mến thương!

Hà Nội, 16/2/2013
© Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

(*) Sáng sớm ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã cho gần nửa triệu quân tràn qua 6 tỉnh Biên Giới Phía Bắc nước ta từ Quảng Ninh đến Lao Cai. Lào Cai, Sapa, Ðồng Ðăng, Lạng Sơn...bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Ðạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9/3/1979, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 2 đàn ông, 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối cạnh giếng.
Read more…

EM BÉ VIỆT NAM TRÊN LỀ ĐƯỜNG HÀ NỘI

10:27 |


EM BÉ VIỆT NAM TRÊN LỀ ĐƯỜNG HÀ NỘI
(Cảm xúc qua lời kể của một người)

Phố xá bừng lên trong nắng mơ
Bên lề, rác rưởi, bụi bay mờ
Có hai em bé ngồi kiên nhẫn
Bên chiếc ca nhôm, dáng đợi chờ

Chốc chốc thằng em lại nấc lên
Tôi nghe trong gió, tiếng em rên
Thằng anh - tôi đoán - ôm em, dỗ
Út nín đi em, đợi có tiền...

Anh sẽ mua cho cái bánh nè...
Mua cơm, hai đứa chúng mình chia
Anh cho em hết đồ ăn nữa
Bố với anh Hai cũng sắp về ...

Lau mắt, thằng em cố mỉm cười
Cười mà như mếu, gọi : Anh ơi...
Sắp về?...bố với anh Hai hả...
Sao bỏ mình đị? Út giận rồi !

Thấy lạ, tôi bèn đến cạnh em
Dịu dàng, gợi chuyện để làm quen
Em ơi, gió lạnh hay đời lạnh
Mà mắt thơ ngây lệ ướt mềm ???

Em thả mắt buồn trong nắng thu
Nói như tiếng gió giữa sương mù
Mẹ đau, không thuốc khi sanh Út
Và chết ngày cha ở chiến khu !

Cu Út thua em bốn tuổi đời
Em thương Út lắm, Út mồ côi
Sanh chưa đầy tháng thì me mất
Mất một tình thương lớn nhất đời !

Hơn một năm sau nhận được tin
Cha về, mộ mẹ đã rêu in
Cha về với một bàn chân cụt
Lặng lẽ buồn như một bóng chim

Gặp lại, nào cha có thể ngờ
Con đầu làm mẹ mớm em thơ
Áo không đủ ấm, khoai ngô thiếu
Trong túp lều tranh ngập nắng mưa !

Cha sống âm thầm nuôi đám con
Trồng rau, bới củ để sinh tồn
Nhưng rồi giông bão không ngừng đến
"Qui hoạch", người ta lấy thửa vườn !

Nguồn sống, nên cha chẳng chịu giao
Thế là "CHỐNG ĐẢNG", buộc cha vào
Anh Hai phản đối người giam bố
Đảng bắt anh về trại cải lao !

Từ đấy chúng em ngủ viả hè
Sống đời hạnh phúc đảng từng khoe
Nên dù gió lạnh Đông, Thu đến
Có thấm đâu bằng cái lạnh kia !

Cái lạnh từ tim của đám người
Tên là Cộng Sản đấy, anh ơi
Họ không còn chút gì nhân tính
Là thú rừng sâu, hiểm ác thôi !

Út khóc. Thằng anh lại dỗ em
Nín đi. Nín nhé, nín, anh xem
Nín, anh mua cháo em ăn đỡ
Anh biết em anh đã đói mèm !

Trời ạ, lòng tôi đắng, mắt cay
Đau thương sao có nỗi đau này!
Đời em đến thế vì ai nhỉ
Bé Việt Nam sao phải đọa đầy ???

Đứng lặng nhìn em, đứng nghẹn ngào
Nói gì? tôi biết nói làm sao ???
Tôi đưa, em nhận mươi đồng bạc
Em bỏ vào ca, nước mắt trào !

© Ngô Minh Hằng

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

Read more…

BÌNH MINH - TẠI TA

06:13 |

TẠI TA

Cầm viên đá, ném xuống ao
Tạo trên mặt nước…lao xao vòng tròn
Thử đặt câu hỏi ? méo …tròn
Nhiều người…tranh luận để còn…đúng sai?

*

Tại ta trước…chả tại ai
Vô tình hữu ý…làm sai…mặt hồ
Nếu không phẳng lặng …sóng xô
Chiều trái chiều phải…mặt hồ đổi thay
Tại ta…mới nghịch …thế này
Hay ta cứ thuận… ngày ngày gió đưa

*

Con người sớm tối …nẳng mưa
Thế là có đủ …một mùa…nhân thiên
Tạo được bức vẽ có duyên
Là vòng tròn đó…hiện trên mặt hồ
Hãy tự lý giải…hồ đồ…
Và thêm hòn đá…sóng xô vòng tròn

*

Cố tình …hay dở vẫn tròn
Tại sao không méo…lại còn… nhiều hơn
Làm người…ai thích vô ơn
Vẫn làm điều xấu…muốn thơm cho mình
Lý giải lặng lẽ thật tình
Lương tri, xấu đẹp do mình tạo ra
Để cho tốt đẹp xấu xa
Những hành động ấy vẫn ra vòng tròn

*

Một điều cần hỏi sắt son
Với người dân việt có còn hay không
Tổ quốc trên hết muôn lòng
Đóng góp sương máu…ai mong méo đời
Vì dân…vì nước bằng lời
Hành động ngược lại…hết thời dối gian…
Tại ta nói dối nhân gian
Hậu quả đã thấy…quan tham…hàng đàn..

Hà Nội, 14- 2- 2013
tác giả : BÌNH MINH

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Đặng Huy Văn - Valentine cho nhà báo Tạ Phong Tần

06:10 |

Lời Tác Giả: Thật là kì lạ, Giáo Hoàng là một chức vụ cao nhất của Giáo Hội Công Giáo Vatican thường được giữ đến cuối đời. Vậy mà ngày 11/2/2013 vừa qua, Ngài đã đột ngột tuyên bố sẽ từ chức vào ngày 28/2/ 2013 này vì lý do sức khỏe làm cho cả thế giới bàng hoàng. Không biết cái sự kiện cách đó đúng 20 ngày, Ngài đã tiếp ông Nguyễn Phú Trọng TBT Đảng Cộng Sản Việt Nam khi ông này sang thăm Âu Châu có ảnh hưởng gì tới sự kiện Ngài tuyên bố từ chức không? Biết đâu, sự kiện Đức Giáo Hoàng tuyên bố từ chức là nhằm gợi ý ông Nguyễn Phú Trọng hãy để Đảng CS VN hãy rút lui khỏi chính trường vì Ngài thấy Đảng CS VN đã quá yếu kém, không còn đủ sức để lãnh đạo nhân dân Việt Nam nữa. Có thể Ngài muốn gợi ý nhân dịp sửa đổi Hiến Pháp VN lần này, ông TBT nên đồng tình với toàn dân mạnh dạn bỏ Điều 4 Hiến Pháp đi?

Vì, chỉ có bỏ Điều 4 Hiến Pháp thì đất nước ta mới có cơ hội để đổi mới từ Độc Tài sang Dân Chủ thực sự! Chắc ai cũng còn nhớ, cách đây đúng 362 năm, chính một đệ tử của Giáo Hội Vatican, Cha Alexandre de Rhodes (1591-1660)[1] đã giúp cho đất nước ta CHỮ QUỐC NGỮ. Thì biết đâu, ngày nay Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI lại gợi mở cho đất nước ta một cơ hội để bước sang Nền Dân Chủ mà không phải xẩy ra bạo loạn như một số nước Trung Cận Đông vừa qua? Nhân ngày Valentine 14/2, tôi băn khoăn không biết có phải Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI cũng muốn đưa lại Tự Do Dân Chủ cho dân tộc Việt Nam hiện nay như ngày xưa Thánh Valentine đã đưa lại tự do cho những cặp trai gái yêu nhau?

VALENTINE CHO NHÀ BÁO TẠ PHONG TẦN
(Thương gửi nhà báo tự do Tạ Phong Tần)

Tôi biết tại Bố Lá hôm nay ngày Valentine vắng ngắt
Dù ai mang quà tới tặng em cũng đều phải quay về
Vì đây không phải là Thánh Đường để ôm em ngây ngất
Cũng không phải là Xứ Sở Tình Yêu xưa má kể em nghe

Phải chi đây là nơi Thánh Valentine bị quân thù hãm hại?[1]
Vì đã ủng hộ trai gái yêu nhau được sống giữa tự do
Nhưng kẻ bạo quyền đâu muốn tự do cho người khác
Chỉ thích tự do cho riêng mình nên em mất tự do!

Em đã đổi tự do của mình giành tự do cho người khác
Nên dù xác thân em ở trong tù hồn em vẫn tự do
Không như những cai tù xác tự do mà hồn trong ngục
Bởi vì họ là nô lệ trăm năm của chế độ nhà tù

Em cứ thử hỏi “Tự Do là gì?” xem họ có biết không?
Họ sẽ trả lời, “Là ăn ở đâu thì ăn, ngủ ở đâu thì ngủ!”
Vì ngoài tiền, gái, chức quyền...trong óc họ làm gì có
Bảy cõi tâm linh của đời người ngoài vũ trụ mênh mông

Họ chỉ phấn đấu để cuối đời theo Marx-Lenin về sum họp
Bởi vì những kẻ vô thần đâu có khái niệm Thiên Đường
“Thiên đường” của họ chỉ là chức trọng, nhà cao, gái đẹp...
Như các bậc tiền nhân Stalin, Mao, Pôn-pốt...nêu gương

Tôi muốn gửi Phương Uyên món quà từ lính đảo Trường Sa
Cây san hô đỏ do anh lặn xuống lấy lên từ đáy biển
Thánh Valentine ơi hãy giúp đỡ đôi gái trai lưu luyến
Vì chống giặc Tàu mà bị tù ngục phải cách xa!

Còn nhiều nữ tù đấu tranh cho tự do trên đất nước
Nếu Giáo Hoàng từ chức thì ai sẽ chuyển giúp đây?[2]
Valentine là biểu tượng của tự do để thay thế độc tài
May chưa đến 28 tháng 2, vậy kính lạy Ngài cứu độ!

Mấy dòng gửi Tạ Phong Tần này xin Giáo Hoàng chuyển hộ
Sang La Mã rồi về Bình Dương chắc cũng mất bảy ngày
Em nhớ ngày nào cũng phải nguyện cầu Đức Chúa!
Chúa sẽ luôn luôn ở bên em giữa địa ngục trần ai

Lạy Phật Tổ độ trì cho má Đặng Thị Kim Liêng nơi cõi Phật![3]
Để hương hồn người má ruột yêu thương sẽ luôn ở bên em
Ôi Tự Do! Tự Do cho Việt Nam! Tự Do không thể chết!
Cùng Thánh Valentine ru em trong giấc ngủ êm đềm!

Hà Nội, 14/2/2013
Ts. Đặng Huy Văn

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO

[1]- Xem Truyền Thuyết Ngày Lễ Tình Yêu, Ngày Valentine 14/2 hàng năm (Google).
[2]- Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI ngày 11/2 tuyên bố sẽ từ chức vào ngày 28/2/2013.
[3]- Má Đặng Thị Kim Liêng của nhà báo Tạ Phong Tần tự thiêu ngày 30/7/2012 cạnh UBND tỉnh Bạc Liêu để đòi trả tự do cho Tạ Phong Tần lúc đó còn trong trại tạm giam.
Read more…